0

Phân tích bài thơ tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến

Trung thu trăng sáng như gương. Tết Trung thu là Tết của trẻ nhỏ, người lớn thường bày cỗ
trông trăng và làm nhiều đổ chơi cho các em. Ngày xưa, để khuyến khích con cháu chăm lo
học hành, ông bà, cha mẹ hay tặng thứ
đồ chơi đặc biệt là hình nộm ông tiến sĩ, gọi là ông tiến
sĩ giấy hay ông nghè tháng Tám. Chỉ cần vài que tre, dăm ba miếng giấy màu là bàn tay khéo
léo của nghệ nhân đã làm ra bộ dạng ông tiến sĩ ở thời điểm vinh quang nhất: lúc vinh quy bái
tổ.
Bài thơ
Tiến sĩ giấy nằm trong phần thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Nhưng trào phúng
thường phải ngụ trữ tình mới hay. Mọi người đều biết Tam Nguyên Yên Đổ cũng là một ông
nghè nổi tiếng tài ba, thừa hiểu tiến sĩ giấy chỉ là thứ đồ chơi cho trẻ con, vậy mà sao c
òn làm
thơ chế giễu?
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến viết:
Cũng cờ, cúng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai!
Tác giả đang tả thực ông tiến sĩ giấy với đủ các thứ sang trọng vua ban cho ngày vinh quy như
cờ, biển, cân đai và cũng gọi là ông nghè.
Tại sao chỉ trong hai câu mà nhà thơ lại dùng một
loạt bốn từ cũng? Đọc lên âm điệu giống như thể hiện thái độ ngạc nhiên trước một sự lạ.
Người đọc ngầm hiểu là trong đời có những ông tiến sĩ những ông nghè thật, xứng đáng với
các thứ cờ, biển, cân đai đ
ó, còn ông tiến sĩ này tuy cũng đầy đủ các thứ và cũng được người
đời gọi bằng ông nghè nhưng chẳng có chút giá trị nào, vì đó chỉ là một ông nghè giả làm bằng
giấy. Nghĩa đen là thế, còn nghĩa bóng là tuy cũng có đủ thứ quý giá thật đấy nhưng tài cán,
đức
hạnh chẳng ra gì. Ngụ ý thâm thuý của Nguyễn Khuyến là vừa tả hình dáng ông tiến sĩ
giấy, vừa gợi cho người đọc liên tưởng đến những kẻ tuy mang danh tiến sĩ, áo mũ xênh xang
nhưng thật sự chẳng có một chút tài đức nào.
Hai câu thực tiếp tục phát triển ý
nghĩa ấy :
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Với vài mảnh giấy xanh xanh, đỏ đỏ, người làm đồ chơi bồi bồi, dán dán thành hình một ông
tiến sĩ giấy, mặt mày phết màu trắng rồi dùng màu son tô điểm cho đẹp. Phần ấy là giả. Còn
thân giáp bảng (giáp bảng là bảng thứ nhất sơn vàng nên còn được gọi là bảng vàng), dùng để
ghi danh những người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên. Văn khôi nghĩa là tài giỏi về văn chương.
Mặt văn khôi là cách gọi những tiến sĩ có tài xứng với học vị cao qu
ý đó. Làm nên thân giáp
bảng và điểm rõ mặt văn khôi đâu phải chĩ cần mấy mảnh giấy và vài nét son mà thành. Phải
bao năm đèn sách, có khi suốt cả đời, lại phải là kẻ thông minh, tài cao, chí lớn, gặp thầy gặp
bạn mới nên danh chứ đâu có dễ dàng gì. Tuy vậ
y, ở đời không ít những vị tiến sĩ bằng xương
bằng thịt, học hàm học vị hẳn hoi nhưng cũng chẳng khác gì loại tiến sĩ giấy. Cái thân giáp
bảng và mặt văn khôi chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những mảnh giấy do chạy chọt bằng
thế lực đồng tiền và những né
t son vẽ vời bôi bác để che mắt thiên hạ. Dù sao, cái thật và cái
giả ở đây cũng vẫn còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi! Cái giả chưa được tác giả đem ra phê
phán.
Hai câu luận:
Tấm thân xiêm ảo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Không còn lấp
lửng, bóng gió nữa, từ miêu tả bên ngoài, nhà thơ đã đi vào đánh giá bên trong,
vẫn nói vể ông tiến sĩ giấy như: tấm thân nhẹ, cái giá hời bởi làm bằng giấy và bán giá rẻ mạt
nhưng ý tứ đã vượt ra ngoài hình hài người giấy mà chĩa thẳng vào các vị khoác tr
ên mình
xiêm áo ông nghè nhưng tài năng, đạo đức nhẹ tênh, suốt đời không làm nổi việc gì xứng đáng
với danh vị cao quý ấy. Vậy mà cũng vênh vang với Gái danh ông nghè, ông thám, thì quả là
cái giá khoa danh ấy quá rẻ, quá hời, chĩ nhờ dịp may mà mua được.
Ý nghĩa trào lộng, châm
biếm sâu cay của đoạn thơ đến đây đã thể hiện rất rõ.
Như thế là không phải chỉ đến Tết Trung thu mới xuất hiện hàng loạt rrhững ông tiến sĩ giấy,
mà tiến sĩ giấy hằng ngày có mặt khắp nơi. Trong đám quan lại của triều đình nhà Ngu
yễn
cuối thế kĩ XIX, thiếu chi thân giáp bảng, mặt văn khôi nhưng cũng chẳng hơn gì loại tiến sĩ
giấy. Lớp trước sợ giặc, hèn nhát đầu hàng. Lớp sau dựa vào lí lẽ tùy thời, ra làm quan với
triều đình bù nhìn, ngoan ngoãn chấp nhận kiếp làm tay sai cho thực
dân Pháp. Đến đây thì
xiêm áo không chỉ nhẹ, khoa danh không chỉ hời mà đã thành dơ bẩn. Cho nên tác giả mới kết
thúc bài thơ bằng hai câu nhận xét thâm thuý:
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
Trở lại với tựa đề bài thơ và
hai đối tượng một hiện, một ẩn là ông tiến sĩ giấy và ông tiến sĩ
bằng xương bằng thịt, chúng ta thấy giá trị chẳng khác gì nhau.
Có một điều lạ là giọng thơ Nguyễn Khuyến rõ ràng có ý phê phán, cười cợt nhưng không
phải phê phán, cười cợt một cách thoải
mái, hả hê mà phảng phất trong lời chế giễu ấy có cả
sự tự chế giễu bản thân. Bởi cụ cũng là một ông nghè đích thực, hơn nữa là Tam Nguyên Yên
Đổ nổi danh, nhưng trước tình cảnh tang thương của đất nước lúc bấy giờ, cũng đành thở dài
ngậm ngùi, buông xuôi,
bất lực.
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ là lời bình phẩm theo kiểu nâng nhân vật lên cao để rồi
bật ra cái cười mỉa mai chua chát, đắng cay khi phải phơi bày sự thực là tiến sĩ thật hay tiến sĩ
giấy giờ đây cũng đểu là thứ đồ chơi mà thôi! Nỗi đau tuy
chưa chảy thành nước mắt nhưng
cứ rưng rức ở trong lòng nhà thơ.
Bài thơ Tiến sĩ giấy mới đọc qua tưởng chỉ ià một bài thơ vịnh vật đơn thuần nhưng suy ngẫm
kĩ, ta sẽ thấy nó hàm ẩn chất trào phúng trữ tình sâu thẳm, thật đáng trân trọng.

admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.