0

Phân tích chất thơ trong “Thu điếu” (Nguyễn Khuyến)

Thu về mang hơi lạnh của làn gió heo may, thu về mang theo nỗi niềm man mác, thu đẹp dịu dàng nhưng lại phất phơ đượm buồn. Có lẽ vì vậy mà mùa thu đã trở thành đề tài vô tận của thơ ca, nhiều nhà thơ đã mượn mùa thu để nói lên cảm xúc của mình. Trong số đó, xuất sắc nhất về đề tài này có lẽ phải kể đến nhà thơ Nguyễn Khuyến. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh quê hương Việt Nam, của mùa thu Việt Nam. Ông nổi tiếng với ba bài thơ: “Thu điếu”, “Thu ẩm, “Thu vịnh“, mà tiêu biểu nhất là bài thơ “Thu điếu”.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

   Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến là những hình ảnh rất đỗi thân quen và dung dị, là kết tinh những nét đặc trưng nhất của làng quê Bắc Bộ, vừa nhẹ nhàng lại vừa bình yên qua sự quan sát tinh tế của đôi mắt và tâm hồn yêu thiên nhiên. “Thu điếu” là bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật với bốn phần đề thực luận kết. Bài thơ cho ta thấy được tâm trạng của nhà thơ trước cảnh vật, tâm tư của nhà thơ trước cuộc đời, thấy được nét thu tĩnh lặng nơi làng quê tuy đẹp mà cô đơn, đẹp mà buồn. Nguyễn Khuyến cảm nhận khung cảnh mùa thu từ gần đến cao xa, rồi lại từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, rồi lại từ ngõ trúc trở về với ao thu và thuyền câu. Ông cũng đã rất tài tình trong việc kết hợp thơ văn và hội hoạ, ta như thấy bức tranh thu được bao trùm bởi một màu xanh rộng lớn của sóng nước, của trời mây, của trúc, của bèo và nổi bật ở giữa là màu vàng của lá.

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

   Hai câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã giới thiệu khái quát về bức tranh mùa thu đẹp nhưng mang nét đượm buồn. Những hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả là ao thu và thuyền câu, là những hình ảnh gần gũi với làng quê Việt Nam. Cảnh vật vào thu được tác giả đặc tả qua hình ảnh “ao thu” với cái “lạnh lẽo” hiu hắt buồn, cái “trong veo” thanh sạch, tĩnh lặng và ngưng đọng. Chiếc thuyền câu vốn đã bé còn được tác giả sử dụng từ lấy “tẻo teo” khiến nó trở nên càng thu hẹp, nhỏ bé, lẻ loi, chỉ như một nét chấm trên nền ao chật hẹp. Cảnh vật được miêu tả có khung cảnh của thiên nhiên và có cả dấu vết của con người dường như có thêm phần nào ấm cúng. Hai câu đề đã vẽ nên một cảnh sắc riêng biệt, mộc mạc, đơn sơ của mùa thu Bắc Bộ với những nét đặc trưng nhất của mùa thu là cái lạnh mới chớm và sự tĩnh lặng.

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

   Sang đến hai câu thực, điểm nhìn của nhà thơ đã có sự dịch chuyển nhưng vẫn không vượt quá sự nhỏ hẹp của ao thu. Chuyển động đó rất nhẹ, rất khẽ, càng làm tôn lên cái tĩnh lặng vốn có của cảnh vật và nhà thơ cũng đã rất nhạy cảm và tinh tế khi chớp được những khoảnh khắc ấy. Gió thổi hiu hiu làm gợn sóng, làm lá rơi. Mọi sự vật đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau mà tâm hồn nhà thơ cũng hoà theo nhịp gợn của sóng, nhịp rơi của chiếc lá trong khoảnh khắc ấy. Nguyễn Khuyến đã rất tinh tế trong việc chọn lọc màu sắc để miêu tả: màu “biếc” của sóng là sự pha trộn giữa màu xanh của nước, màu xanh của nền trời cộng thêm chút nắng, màu lá vàng là màu sắc cổ điển đặc trưng của mùa thu. Cảnh vật được miêu tả ở hai câu thơ có động nhưng là lấy động tả tĩnh: “hơi gợn tí”, “khẽ đưa vèo” càng tăng thêm sự quạnh quẽ, cô tịch của khung cảnh.

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

   Hai câu thơ tiếp theo, tác giả phóng mắt lên bầu trời cao để cảm nhận áng mây nền rời, rồi lại hạ tầm mắt nhìn ra xa ngõ trúc, không gian được mở rộng cả về chiều cao , chiều rộng và chiều sâu. Bức tranh thu của Nguyễn Khuyến tràn ngập một màu “xanh ngắt” – một màu xanh tuyệt đối, không một chút pha tạp – toả ra xung quanh khiến cảnh thu trở nên thanh sơ và dịu mát. Hình ảnh bầu trời được sử dụng rất sáng tạo, từ láy “lơ lửng” đã diễn đạt thành công trạng thái di chuyển nhẹ ở lưng chừng không có điểm tựa của những áng mây. Trời thu cao vời vợi được gợi qua những tầng mây xanh. Con ngõ trúc được tác giả đặc tả với những từ ngữ “quanh co”, “khách vắng teo” thể hiện một không gian rợn ngợp màu xanh mà hiu quạnh, tịch mịch vô cùng. Bất giác, ta như quay trở về với làng quê tĩnh lặng với hình ảnh ngõ trúc vắng làm lắng đọng trong tác giả nỗi cô đơn vắng vẻ. Sự trống trải vẫn từ từ lan toả, làm đượm buồn bức tranh.

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

   Đến câu thơ thứ bảy, ta thấy nổi bật lên là hình cảnh người câu cá được thể hiện gián tiếp qua tư thế “tựa gối buông cần”. Phải chăng nhà thơ không hề câu cá mà đang ưu tư chìm trong dòng suy nghĩ mênh mông? Phải chăng tâm hồn ông chất chứa một nỗi buồn sâu lắng vì mãi mà cá vẫn chưa cắn câu? Tiếng “cá đâu đớp động” làm xao động mặt nước, vô tình cũng làm xao động tâm hồn của nhà thơ. Có lẽ có cá hay không ông cũng chẳng buồn nghĩ đến, bởi vì tâm trí còn đang rối bời vì lo cho dân, lo cho nước. Thời thế thay đổi quá nhanh, non sông rơi vào tay giặc mà chẳng làm được gì để cứu đời cứu nước. Ta cảm nhận ở Nguyễn Khuyến một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sa.

   Bài thơ nói đến việc câu cá, nhưng thực ra tâm hồn nhà thơ đang tĩnh lặng để đón nhận cảnh thu, để đắm chìm trong suy tư về thời thế, về đất nước… Bởi vì có tĩnh lặng nên mới cảm nhân được độ rơi khe khẽ của lá, đặc biệt là âm thanh rất nhỏ của tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo. Trong không gian tĩnh lặng của mùa thu cũng nói lên được nỗi buồn cô quạnh, uẩn khúc thầm kín trong tâm hồn của một con người cáo quan về quê ỏ ấn nhung trong lòng vẫn đầy nỗi ưu tư.

admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.